Tháng 01, Ngày 01

Năm 01 – Tháng 01 – Ngày 01 lu-ca sáng thế ký

02 – Khám Phá Kinh Thánh – Tháng 01, Ngày 01 (Mỗi Ngày Với Lời Chúa – Năm 01, Tháng 01, Ngày 01)

Chào mừng quý vị đến với VGM, chương trình Học Biết Phúc Âm qua thiết bị di động.

Hôm nay, ngày 1 tháng 1. Bài học Tân Ước sẽ bắt đầu trong Lu-ca và sẽ liên tiếp tới Công Vụ Các Sứ Đồ, giúp người học có cái nhìn tổng thể về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu, chức vụ của Ngài và Hội Thánh đầu tiên. Lu-ca viết sách Lu-ca và Công Vụ Các Sứ Đồ, và bạn sẽ chú ý đến phần mở đầu của Lu-ca: ông rất cẩn thận trong việc nghiên cứu các sự việc, cũng như phần mở đầu của Công Vụ, ông tiếp tục miêu tả những gì ông đã viết trong sách trước.

Chúng ta cùng đọc Lu-ca đoạn 1, câu 1 đến câu 38:

"Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ khả kính, có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản tường thuật về những việc đã được thực hiện giữa chúng ta, đúng như những người đã chứng kiến từ ban đầu và phục vụ đạo đã truyền lại cho chúng ta. Vì thế, sau khi cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, để ngài biết những điều mình đã học là chắc chắn.

Trong đời Hê-rốt, vua xứ Giu-đê, có một thầy tế lễ thuộc ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi A-rôn. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách trọn vẹn. Họ không có con, vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều cao tuổi.

Chuyện xảy ra khi Xa-cha-ri, theo phiên thứ của ban mình, làm công tác tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. Khi bắt thăm theo thông lệ của các thầy tế lễ, ông đã trúng thăm được vào đền thờ của Chúa để dâng hương. Trong giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện.

Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện đến với Xa-cha-ri, đứng bên phải bàn thờ dâng hương. Thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, kinh hãi, nhưng thiên sứ bảo ông: 'Này, Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện của ngươi đã được nhậm. Ê-li-sa-bét vợ ngươi sẽ sinh một con trai, ngươi hãy đặt tên là Giăng. Con trai ấy sẽ làm cho ngươi vui mừng, hớn hở, và nhiều người sẽ hoan hỉ khi con trẻ ra đời. Vì con trẻ ấy sẽ được tôn trọng trước mặt Chúa, không uống rượu nho hay thức uống có men, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. Con trẻ ấy sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa là Đức Chúa Trời của họ. Con ấy sẽ lấy tinh thần và quyền năng của Ê-li mà đi trước Chúa, để đem lòng cha trở về với con cái, đem kẻ không vâng phục đến sự khôn ngoan của người công chính, và để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.'

Xa-cha-ri thưa với thiên sứ: 'Làm sao tôi biết việc này sẽ xảy ra? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi.'

Thiên sứ đáp: 'Ta là Gáp-ri-ên, hằng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến nói với ngươi và báo tin mừng này cho ngươi. Này, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời điểm.'

Trong lúc ấy, dân chúng đang đợi Xa-cha-ri; họ ngạc nhiên vì ông ở lâu trong đền thờ. Lúc đi ra, Xa-cha-ri không nói được với dân chúng, thì họ mới hiểu rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông ra dấu cho họ vì vẫn còn bị câm. Khi những ngày phục vụ đã mãn, ông trở về nhà.

Sau những ngày ấy, vợ ông là Ê-li-sa-bét mang thai và ẩn mình trong năm tháng. Bà nói rằng: 'Chúa đã làm ơn cho tôi như thế trong những ngày này, để cất đi sự hổ nhục của tôi giữa mọi người.'

Vào tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa-rét, thuộc miền Ga-li-lê, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người nam tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri. Thiên sứ đến gặp cô và nói: 'Hỡi người được ơn! Chúc mừng cô, Chúa ở cùng cô!' Nhưng Ma-ri rất bối rối về những lời này và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì.

Thiên sứ tiếp: 'Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì cô đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Này, cô sẽ mang thai, sinh một con trai và đặt tên là Giê-xu. Con trai ấy sẽ được tôn trọng, được gọi là Con của Đấng Chí Cao. Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít, tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, vương quốc Ngài mãi mãi trường tồn.'

Ma-ri thưa với thiên sứ: 'Tôi chưa ăn ở với người nam nào thì làm sao có được điều đó?'

Thiên sứ đáp: 'Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ phủ che cô. Cho nên Con Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Đức Chúa Trời. Kìa, Ê-li-sa-bét, người bà con của cô, cũng đã có thai một con trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời chẳng làm được.'

Ma-ri thưa: 'Tôi đây là đầy tớ gái của Chúa, xin điều ấy xảy đến cho tôi như lời ngài truyền.' Rồi thiên sứ rời khỏi Ma-ri."

Khi Lu-ca bắt đầu kể lại cuộc đời của Chúa Cứu Thế Giê-xu, ông khẳng định rằng những gì ông viết đều có nhân chứng xác minh kỹ càng (câu 1 đến câu 4). Cũng lưu ý rằng sự ra đời của Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu đều có liên kết với con người và sự kiện trong lịch sử; tất cả đều có thể kiểm chứng lại (câu 5). Ê-li-sa-bét và Xa-cha-ri là người tin kính Chúa, về ban thầy tế lễ A-bi-gia (Sử Ký thứ nhất, đoạn 24, câu 10). Thiên sứ Gáp-ri-ên, đứng trước mặt Đức Chúa Trời (câu 19), là người rao báo tin mừng cho Xa-cha-ri và Ma-ri về sự ra đời của Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu. Gáp-ri-ên cũng là thiên sứ báo tin cho tiên tri Đa-ni-ên (Đa-ni-ên đoạn 8, câu 16; đoạn 9, câu 21).

Hãy tưởng tượng rằng bạn cũng đang có mặt ở nơi thiên sứ phán với Ma-ri để chứng kiến sự việc trong câu 26–38. Sứ điệp thiên sứ rao truyền hoàn toàn kinh ngạc, vì nó ứng nghiệm lời tiên tri trong Kinh Thánh về Con Trẻ. Con Trẻ ấy không những là Con của Đức Chúa Trời; Ngài sẽ còn trị vì vương triều Đa-vít, và vương quốc Ngài không hề cùng (so sánh Ê-sai đoạn 9, câu 6–7). Sứ điệp đã làm Ma-ri bối rối, tức là Con Trẻ được thụ thai trong khi cô chưa ăn ở với người nam nào (so sánh Ê-sai đoạn 7, câu 14). Nhưng phản ứng của Ma-ri trong câu 38 chứng tỏ Ma-ri tin cậy hoàn toàn điều Chúa sẽ làm trên cuộc đời của bà.

Chúng ta cùng đọc Sáng Thế Ký đoạn 1, đoạn 2:

"Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất. Đất không có hình dạng và trống không. Bóng tối bao trùm mặt vực, và Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.

Đức Chúa Trời phán: 'Phải có ánh sáng,' thì có ánh sáng. Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt đẹp. Đức Chúa Trời phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối. Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là ngày, và bóng tối là đêm. Vậy có buổi tối và buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Đức Chúa Trời lại phán: 'Phải có một cái vòm giữa khối nước để phân cách nước với nước.' Đức Chúa Trời làm nên vòm trời và phân cách nước ở dưới vòm với nước ở trên vòm, thì có như vậy. Đức Chúa Trời gọi cái vòm là bầu trời. Vậy có buổi tối và buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

Đức Chúa Trời phán: 'Nước dưới bầu trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn xuất hiện,' thì có như vậy. Đức Chúa Trời gọi chỗ khô cạn là đất, còn khối nước tụ lại là biển. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

Đức Chúa Trời phán: 'Đất phải sinh thảo mộc, cỏ kết hạt giống, cây trên đất tùy theo loại mà ra trái và kết hạt,' thì có như vậy. Đất sinh cây cỏ, cỏ kết hạt tùy theo loại; cây ra trái và trong trái có hạt, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Vậy có buổi tối và buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

Đức Chúa Trời phán: 'Phải có các vì sáng trên vòm trời để phân biệt ngày và đêm, để làm dấu hiệu xác định các mùa, ngày và năm, và để làm các vì sáng trên vòm trời soi sáng mặt đất,' thì có như vậy. Đức Chúa Trời tạo nên hai vì sáng lớn: vì sáng lớn hơn để cai quản ban ngày, vì sáng nhỏ hơn để cai quản ban đêm; Ngài cũng tạo nên các ngôi sao. Đức Chúa Trời đặt các vì sáng đó trên vòm trời để soi sáng mặt đất, cai quản ban ngày và ban đêm, và phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Vậy có buổi tối và buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

Đức Chúa Trời phán: 'Nước phải đầy dẫy các loài thủy sinh vật, và phải có các loài chim bay lượn trên mặt đất dưới vòm trời.' Đức Chúa Trời sáng tạo các loài cá khổng lồ, mỗi loài động vật thủy sinh tùy theo loài mà sinh sôi nảy nở trong nước, và mỗi loài chim có cánh tùy theo loài. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó và phán: 'Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.' Vậy có buổi tối và buổi sáng: đó là ngày thứ năm.

Đức Chúa Trời phán: 'Đất phải sinh các động vật tùy theo loài: gia súc, các loài bò sát và thú rừng tùy theo loài,' thì có như vậy. Đức Chúa Trời tạo nên các loài thú rừng tùy theo loài, gia súc tùy theo loài, và mỗi loài bò sát trên đất tùy theo loài. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.

Đức Chúa Trời phán: 'Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh chúng ta và giống như chúng ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.' Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài; Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời; Ngài sáng tạo người nam và người nữ. Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: 'Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá biển, loài chim trên trời và mỗi loài bò sát trên mặt đất.'

Đức Chúa Trời lại phán: 'Này, Ta sẽ ban cho các con mọi cỏ kết hạt mọc khắp mặt đất, cùng mọi loài cây ra trái có hạt; đó sẽ là thức ăn cho các con. Còn các loài thú rừng, loài chim trên trời, loài vật bò sát trên mặt đất, và bất cứ loài nào có sự sống, thì Ta ban mọi cỏ xanh dùng làm thức ăn,' thì có như vậy. Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã tạo dựng thật rất tốt đẹp. Vậy có buổi tối và buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.

Như vậy trời đất và muôn vật đã được sáng tạo xong. Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ bảy, Ngài nghỉ, Ngài đã làm xong mọi công việc. Ngài ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó, vì vào ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc sáng tạo.

Đó là gốc tích trời và đất. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm nên trời và đất, thì trên đất chưa có bụi cây nào mọc ngoài đồng và cũng chưa có ngọn cỏ nào mọc trong ruộng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa cho mưa xuống đất và cũng chưa có người cày xới đất đai. Nhưng có hơi nước từ dưới đất bốc lên tưới khắp mặt đất.

Bấy giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một sinh linh. Sau đó Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập một khu vườn tại Ê-đen, ở hướng đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó. Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác.

Một dòng sông từ Ê-đen chảy ra để tưới vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh. Nhánh thứ nhất là Bi-sôn; nhánh này chảy qua vùng đất Ha-vi-la, là nơi có vàng (vàng ở vùng này rất tốt; ở đó còn có nhũ hương và bích ngọc). Nhánh sông thứ hai tên là Ghi-hôn, chảy qua vùng đất Cút. Nhánh sông thứ ba tên là Ti-gơ-rít, chảy về phía đông lãnh thổ A-si-ri. Còn nhánh sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn. Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: 'Con được tự do ăn trái của mọi thứ cây trong vườn, nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó chắc chắn con sẽ chết.'

Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán: 'Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ tạo nên một người giúp đỡ thích hợp với nó.' Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên mọi loài thú đồng và chim trời, rồi đưa đến trước mặt con người để xem con người đặt tên chúng là gì; và bất cứ tên nào con người đặt cho mỗi sinh vật đều thành tên riêng của nó. A-đam đặt tên cho mọi loài gia súc và chim trời cùng mọi loài thú rừng, nhưng phần A-đam thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ thích hợp với mình.

Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến A-đam ngủ mê, lấy đi một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng chiếc xương sườn đã lấy từ A-đam dựng nên một người nữ và đưa đến cho A-đam.

A-đam nói: 'Bây giờ mới có người này, là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi; nàng sẽ được gọi là người nữ, vì từ người nam mà có.' Bởi vậy người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt. A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng nhưng không thấy ngượng ngùng."

Sáng Thế Ký là sách đầu tiên của Môi-se, quyển sách của sự bắt đầu. Sáng Thế Ký chép lại công cuộc sáng tạo trái đất, các sinh vật sống và con người; có người phạm tội trong chương 3 bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen, và sự xung đột giữa hai anh em trong chương 4. Tuy nhiên, qua các sự kiện, chúng ta nhận thấy rằng Chúa vẫn luôn yêu thương con người, và những lời hứa đầu tiên về chương trình cứu rỗi được tìm thấy trong các chương này. Chúa đã có kế hoạch trước khi con người phạm tội, và lời hứa của Ngài chính là đề tài của toàn bộ Kinh Thánh. Đề tài đó nói về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi mà Ngài đã hứa ban cho nhân loại. Lịch sử được cô đọng trong các chương này; các sự kiện quan trọng được đề cập ngắn gọn. Bài học cho tuần này trong Sáng Thế Ký kéo dài thời gian hơn những sách khác trong Kinh Thánh.

Khi bạn nghiên cứu về sự sáng tạo, bạn sẽ thấy rằng Chúa Giê-xu cũng chính là Đấng Sáng Tạo (Giăng đoạn 1, câu 1 đến câu 3; Hê-bơ-rơ đoạn 1, câu 2). Khi Chúa hoàn thành công cuộc sáng tạo của Ngài, Ngài đã nghỉ vào ngày thứ bảy và đặt nó là ngày thánh (đoạn 2, câu 2 đến câu 3). Đó cũng là điều răn thứ tư trong bản luật pháp của Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký đoạn 20, câu 8 đến câu 11). Đức Chúa Trời cũng thiết lập hôn nhân và phán rằng hôn nhân là sự ràng buộc mãi mãi (đoạn 2, câu 24). Cả sự vâng giữ ngày Sa-bát và hôn nhân chính là quy luật của tạo hóa và đã có trước Mười Điều Răn.

Xin giới thiệu với các bạn sách Thi Thiên. Thi Thiên là tiếng nói của tấm lòng; Thi Thiên xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân; Thi Thiên liên quan đến sự kiện lịch sử. Một số thì viết về Đấng Mê-si-a, những lời tiên tri và sự mặc khải; một số là ca vịnh và thơ thánh; một số đoạn được viết trong nỗi tuyệt vọng, và một số khác được viết trong niềm vui mừng hớn hở. Thi Thiên là quyển sách mang nhiều giá trị thần học. Tác giả luôn kéo độc giả về chân lý, và chân lý thì luôn trái ngược với những lời nói dối hay những mưu mô của ma quỷ nhằm hủy diệt thế giới này. Đôi khi việc chọn sai đường đi sẽ khiến chúng ta dễ dàng bỏ cuộc trong hành trình với Chúa. Thêm vào đó, chúng ta học được quyền năng của Đức Chúa Trời, sự sáng tạo của Ngài, quyền bính tối cao, lòng nhân từ, tình yêu, sự thành tín và sự phán xét của Ngài. Chúa của chúng ta là Đấng công bình. Khi chúng ta đọc Thi Thiên của ngày hôm nay và những tuần kế tiếp, hãy chú ý đến những thuộc tính của Ngài.

Ngôn ngữ để viết Thi Thiên và toàn Cựu Ước là tiếng Hê-bơ-rơ. Người Hê-bơ-rơ luôn sử dụng các từ ngữ cụ thể, hay dùng những từ ngữ tượng hình để làm rõ những quan niệm. Ngược lại, Tân Ước chủ yếu được viết bằng tiếng Hy Lạp, và các tác phẩm triết học được viết bằng ngôn ngữ phương Tây hiện đại này. Ví dụ, Thi Thiên chương thứ nhất là một bức tranh được viết bằng lời: cây trồng gần dòng nước, cây sai trái, lá luôn tươi tốt, rơm rác bị gió thổi bay đi. Nếu bạn tìm, Cựu Ước có hàng trăm từ tượng hình như thế. Đặc điểm này của người Hê-bơ-rơ đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên và các công trình của Đức Chúa Trời. Khi bạn đọc, hãy nghĩ về tác giả: có lẽ tác giả đang ngồi trên một sườn đồi và diễn giải những suy nghĩ cá nhân của ông thành lời bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Tiếng Hê-bơ-rơ đã được gìn giữ cẩn thận và được dịch ra ngôn ngữ hiện đại cho chúng ta ngày nay. Thật là tuyệt vời!

Cuối cùng, khi bạn đọc Thi Thiên, hãy tìm kiếm điều chúng muốn dạy dỗ qua sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh để thay đổi cuộc đời mình. Điều này có lẽ là thay đổi quan điểm, lối suy nghĩ hay một cá tính.

Chúng ta cùng đọc Thi Thiên thứ nhất:

"Phước cho người nào chẳng đi theo mưu kế của kẻ ác, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng, nhưng vui thích về luật pháp Đức Giê-hô-va và suy ngẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, sinh bông trái đúng mùa đúng tiết; lá nó cũng chẳng tàn héo. Mọi việc người làm đều sẽ thịnh vượng. Kẻ ác chẳng như vậy đâu, nhưng chúng khác nào rơm rác gió thổi bay đi. Vì thế, kẻ ác chẳng đứng nổi trong ngày phán xét, tội nhân cũng không được vào hội người công chính. Vì Đức Giê-hô-va biết đường lối người công chính, nhưng đường lối kẻ ác sẽ bị diệt vong."

Đọc Thi Thiên, hãy tìm kiếm những phước lành Chúa ban cho người hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời. Điều quan trọng nhất của một con người chính là lắng nghe Lời Đức Chúa Trời, khám phá tình yêu của Ngài và thờ phượng Ngài (câu 2). Kết quả của người luôn tìm kiếm Chúa chính là: Ngài sẽ bảo vệ người và ban phước dư dật cho người (câu 1, câu 3, câu 6 phần A). Trái với những phước hạnh đó là hậu quả của những cuộc đời sống xa cách Đức Chúa Trời (câu 4, câu 5, câu 6 phần B). Lưu ý: người này, trong câu 1, được miêu tả là con cái Đức Chúa Trời đã cự tuyệt những mối quan hệ bất chính, không làm những việc sai trái trước mặt Chúa và không cho phép những điều đó tác động đến mình (so sánh Thi Thiên chương 26, câu 4 đến câu 5).

— BÀI HÁT —

Có chăng trong đêm tối? Có chăng nơi sâu thẳm? Có hoảng hốt lặng nhìn thời gian trôi? Con nghe trong lòng đớn đau, Con như vô vọng lạc lối. Chung quanh con thế gian nhiều lo lắng. Giữa thế giới đầy hận thù, Giữa những lúc đầy tuyệt vọng, Con như đang mãi mê trong đêm tối. Chúa đã đến từ nơi Ngài, Chúa đã xóa đi vết ố nhơ, Cho con đây biết nương cậy Ngài. Ơn yêu thương Chúa đã ban cho, Chính con người con còn đang mải mê, Đang say mê kiếm tìm Tình yêu thương trong bao vô vọng. Và Giê-xu đã đến, Cất đi mệt mỏi và bao gánh nặng. Đưa con ra khỏi tối tăm, Đến bến bình an.

Có chăng trong đêm tối? Có chăng nơi sâu thẳm? Con hát mãi lặng yên, thời gian trôi. Con nghe trong lòng đớn đau, Con như vô vọng lạc lối. Chung quanh con thế gian nhiều lo lắng. Giữa thế giới đầy hận thù, Giữa những lúc đầy tuyệt vọng, Con như đang mãi mê trong đêm tối. Chúa đã đến từ nơi Ngài, Chúa đã xóa đi vết ố nhơ, Cho con đây biết nương cậy Ngài. Ơn yêu thương Chúa đã ban cho, Chính con người con còn đang mải mê, Đang say mê kiếm tìm Tình yêu thương trong bao vô vọng. Và Giê-xu đã đến, Cất đi mệt mỏi và bao gánh nặng. Ơn yêu thương Chúa đã ban cho, Chính con người con còn đang mải mê, Đang say mê kiếm tìm Tình yêu thương trong bao vô vọng. Và Giê-xu đã đến, Cất đi mệt mỏi và bao gánh nặng. Và Giê-xu đã đến, Cất đi mệt mỏi và bao gánh nặng. Ơn yêu thương Chúa đã ban cho, Chính con người con còn đang mải mê.